Sunday, January 3, 2016

17.- HƯỜN CUNG ĐÀN

17.- HƯỜN CUNG ĐÀN
Tuất thời 29 tháng 6 Ất Tỵ (27-7-65)
      Thành Hoàng Bổn Cảnh, Bổn Thần chào chư Thiên mạng tam ban. Bổn Thần thừa sắc lịnh Tam Trấn: Vì Kim Quang yếu thần, nên sắc tứ Hoàng Mai chấp cơ, phận sự tuân hành, Bổn Thần xuất ngoại, thăng.
      (Tái cầu:)
Thi:
TỀ-THIÊN ĐẠI-THÁNH giáng Hườn Cung,
Mừng hết môn đồ tại điện trung,
Mượn bút mấy lời khuyên rán nhớ,
Tu sao đắc quả cõi vô cùng.
      ĐẠI-THÁNH chào chư môn đồ nam nữ. Đại Thánh đem chơn linh Thiên Linh giáng đàn cùng chư môn đồ bàn về việc đạo. Truyền Huệ Đăng độc giả, Đại Thánh sẽ dạy sau. Ban ơn môn đồ tất cả, tiếp điển, thăng.
      (Tiếp điển:)
Thi:
THIÊN luật ai qua ở cõi trần,
LINH hồn thanh nhẹ, trược là thân,
CHƠN quang xuất hiện nơi cung nội,
TIÊN cảnh huờn lai cậy bút thần.
      CHƠN TIÊN tôi mừng chào chư Thiên mạng phụng thừa tam ban. Vậy giờ nay tôi được đủ gần tam ngoạt luyện thần định tịnh nơi Non Bồng. Nay ĐẠI-THÁNH vận chuyển linh cơ, đôi lời tố trần cùng chư huynh tỷ. Vậy xin Thiên mạng cùng tam ban miễn cho và an tọa, để Chơn Tiên tôi được đôi lời bày tỏ.
      Nầy chư Thiên mạng tam ban! Cuộc đời không chi là quí, đến lúc vào cõi vô hình thì mới biết cho đời là giả tạm. Chơn Tiên tôi lúc ở vào cảnh thiếu thời, từng được thân phụ mẫu xem là quí giá, được đủ đầy sự nuông chiều, hằng cho vào trường đời huấn luyện, là ý của song thân tôi muốn cho con trở nên người hữu dụng trên cõi đời tranh đấu. Ấy là một điểm thường tình của cha mẹ yêu quí con, như mọi người trên thế sự. Đường đời vinh hạnh ấy tôi đã trải qua bao màn lớp, đến ngày được thọ giáo chân truyền theo nền Đại-Đạo, cũng đôi phần công quả, lo cùng quí đại huynh, tỷ để đóng góp quả công.
      Khi đã đường đời kết liễu, hồn linh rời khỏi, xác phàm bỏ lại, vùi chôn dưới lòng đất, rồi đây làm phân cho cây cỏ, có chi đâu là quí như lúc trên đời. Trái lại, linh hồn rời khỏi xác, vào cảnh vô hình, mới thấy rõ sự hành vi của mình nơi trần như soi trong gương trắng. Như vậy là linh hồn bất diệt, được sự cứu vãn bởi tự nơi ta, lúc sống còn biết nuôi nấng tinh thần đạo đức, mới được ân huệ khi rời khỏi xác thân. Còn những linh hồn lúc dựa chơn thân, không biết tự giác, tầm đường mai hậu cho lúc bỏ xác phàm trần, thì linh hồn ấy phải chịu bao điều thưởng phạt do sự sống còn ta cấu tạo.
      Vậy giờ nay tôi đã được hộ trì của ĐẠI-THÁNH, nên điển quang đầy đủ, cùng cảnh củ ngày qua, tố trần đôi đoạn:
Thi:
Trần hồng dày đặc lớp tài danh,
Chôn chặt linh hồn mãi quẩn quanh,
Muốn khỏi mê đồ nên giác ngộ,
Luân hồi qua khỏi vượt sầu thành.
Hựu:
Sầu thành nên tránh chớ a vào,
Đêm vắng bút đề kỷ niệm trao,
Bạn tục ngăn ngừa tâm ý mã,
Cảnh Tiên nâng chén ngự Bàn Đào.
Hựu:
Bàn Đào rượu Thánh nực mùi thơm,
Én liệng cành mai líu tợ đờn,
Hội diện linh quang sanh bất diệt,
Tinh thần định trí hóa kim đơn.
Hựu:
Kim đơn kiết tụ ấy phi phàm,
Diệt hết lòng trần bỏ muốn ham,
Khử trược Tiên phương hồi Cực Lạc,
Tồn thanh pháp nhiệm hóa Già Lam.
Hựu:
Già Lam khể thủ luật Tiên Gia,
Minh cảnh bồ đề thị ái tha,
Bát nhã chuyển xây nền Đại-Đạo,
Mật Đa thiện thức hóa Di Đà.
Hựu:
Di Đà Phật xứ chẳng đâu xa,
Tầm ở non cao khó gặp mà,
Kiếm huệ diệt trừ bầy lục tặc,
Xuất hình ẩn hiện nội tâm ta.
Hựu:
Tâm ta ẩn sẵn có hai đường,
Lên cảnh Niết bàn, xuống nẻo ương,
Giác sát tâm sanh thành chánh quả,
Mê đồ mờ mịt cảnh Tây Phương.
Hựu:
Tây Phương nào chứa khách mê trần,
Cực lạc lọc lừa kẻ hiếu nhân,
Cảnh trí thanh nhàn tâm ẩn tại,
Tuần hườn minh định luật cân phân.
Hựu:
Cân phân Tạo Hóa máy huyền vi,
Âm pháp thưa mà khó lọt đi,
Gặp quỉ vô thường thân bỏ lại,
Ngàn vàng không sánh chữ từ bi.
Hựu:
Từ bi thực hiện chiếu linh quang,
Gặp trận lửa hồng khó cháy tan,
Giáp sắt không tròn cơn mạt kiếp,
Bạch y năng luyện báu ân vàng.

      Chơn Tiên tôi từ lúc ở trần ít hay ngâm thi cùng quí huynh tỷ. Giờ nay tôi ở vào cảnh vô hình mượn bút cơ chuyển qua thế giới trần gian, dụng ít lời thi phú để cùng chư huynh tỷ cho thỏa cơn xa vắng. Thôi đôi lời lưu lại cùng gia đình thân tộc, sau sẽ cùng nhau hội diện. Chơn Tiên tôi xin giã từ, nhượng bút, thăng.

BÌNH-MINH ĐẠI-ĐẠO II

BÌNH-MINH ĐẠI-ĐẠO II

Đàn Tý thời 15-6 Kỷ-Dậu (28-7-1969) tại Hòa-Đồng Tôn-Giáo
____________
(Tiếp lịnh tái cầu: Đồng Tử Bạch-Hoa)
Thi:
Thọ khí âm dương vốn Mẹ, Cha,
Từ trong thạch động ấy quê nhà,
Thiên-Cung náo loạn Thần Tiên nể,
Sổ bộ Diêm-Đền xé nát ra.
      ĐẤU-CHIẾN-THẮNG PHẬT — Lão Tôn mừng chư hiền đồ, chư hiền đồ an tọa nghe Lão Tôn vịnh phú tả Bình-Minh Đệ Nhị, thọ sắc Diêu-Trì hạ trần diễn giải cho kiếp con người sanh trưởng trong bầu trời hưởng nhờ ân Tạo-Hóa.
Phú:
     Khí âm dương hóa sanh thân thể,
     Không Mẹ Cha, xuất thế lắm dị hình,
     ẩn lâm sơn trưởng dưỡng bởi khí tinh,
     Dùng hoa quả nuôi mình, cùng ở nơi Liêm-Thủy động.
     Hồi tưởng lại muốn biết mình được bao nhiêu tuổi sống,
     Phải trường sanh khỏi phải chịu động luật của ai đâu!
     Nghĩ thân nầy bầu Tạo-Hóa muốn tóm thâu,
     Như vậy mới phỉ chí của Hầu-Vương Liêm-Động-Thủy.
     Tâm phát động tầm Tiên-Ông để thọ truyền Đạo lý,
     Đã bao năm sơn thủy vượt tầm sư,
     Gặp Bồ-Đề xin thọ giáo Đức Tôn-Sư,
     Không chấp nhận, quá ư tủi hổ!
     Ta nghĩ mình không giống người, quá khổ,
     Nên Thầy chê không dạy dỗ kẻ như Ta,
     Cúi đầu xin năn nỉ thiết tha,
     Thầy lấy quạt gõ đầu Ta ba cái,
     Tay chấp đít động Tiên Thầy quày trở lại.
     Trí thông minh Ta cho rằng phải phải,
     Nên thật hành chớ trái khó đạt lấy thành công,
     Chờ canh ba Ta độn nhập vào trong,
     Tầm đến chỗ Thầy nằm nơi phía hậu.
     Quì dưới đất trông Thầy động mình mà bạch tấu,
     Nghe Thầy phân: đã giờ Tý, giữa canh ba,
     Hầu-Vương đâu, sao chẳng đến hầu Ta,
     Ban pháp-báu cho Hầu-Vương thọ truyền Đạo-pháp.
     Quì dưới đất Ta liền ứng đáp:
     Con đến lâu rồi nhưng còn chờ đợi lịnh Tôn-Sư.
     Đức Bồ-Đề rõ thấu hạo khí thiên tư,
     Liền chấp nhận trao bửu thư thâu vào thọ giáo,
     Thất-Thập-Nhị Huyền-Công Thầy đã thâu vào túi báu,
     Thầy bảo Ta đem đổ giữa không gian,
     Chẳng núi non mà cũng chẳng đặng đổ ngoài đàng,
     Ta hội ý bèn nuốt vào trong cả thảy.
     Làm bổn phận trở vào quì tâu bạch lại:
     Con đã làm xong lời Tôn-Sư đã chỉ dạy con.
     Bồ-Đề Ông ban phép báu vẹn tròn,
     Ta trở lại động non học Tu cùng chúng đệ.
     Ngày khích động, Ta bàn cùng chư đệ chúng,
     Thử phép mầu, xem tác dụng của Thầy ban,
     Làm lố lăng chư đệ chúng la vang,
     Thầy giận đuổi hạ san, không cho ở đây làm đệ tử.
     Ta vào lạy tam thiên xin Thầy tha thứ,
     Quyết một lòng chẳng chứa nhận ở Ta,
     Còn cấm rằng: từ đây chẳng đặng lân la,
     Cùng không lậu cho ai là Ta truyền Đạo-pháp,
     Nếu vi lịnh, Ta sai chư Thần tróc nã, bắt đục cốt rút gân.
     Hoảng hồn kinh chẳng dám ở lại gần,
     Bèn từ tạ, đấu vân về cùng chư hầu tử.
     Từ đây Ta xuống Diêm-Vương soạn vào bộ tử,
     Đã bôi xong sổ-bộ của giống dòng Ta,
     Nhổ cột đồng nơi rún biển làm binh khí xông pha,
     Quá náo loạn, Diêm-Chúa thượng tấu đến Thiên-Tòa.
     Thiên-Sứ triệu Ta về Thiên-Đình thọ chức,
     Nghe chiếu triệu, Ta liền đấu-vân lập tức,
     Chầu Ngọc-Hoàng, lãnh chức Bật-Mã-Ôn,
     Hội Thần Tiên Ta chẳng đặng nhập vào môn,
     Cùng Hội-Yến Bàn-Đào nơi Tây-Vương-Mẫu.
     Ta giận thay! Tài phép như Ta nào ai rõ thấu,
     Liền bỏ chức, cân-đấu trở lại trần gian,
     Loạn Thiên-Cung, Phật, Thánh hãy kinh hoàng,
     Ta trở lại trần gian, về nơi Liêm-Thủy-Động.
     Ngày chiêu tập chúng hầu càng thêm đông phó hội,
     Dựng Đại-Kỳ tôn xưng Đại-Thánh Tề-Thiên,
     Pháp thần thông Ta đã đủ diệu huyền,
     Chiếm một cõi làm vua trên thế giái.
     Ngày phát động phong trào càng trọng đại,
     Hội Quần-Tiên nơi Thiên-Đình vào hạ giái để bắt Ta,
     Thần Nhị-Lang thọ lịnh xuống giái ba,
     Biết bao trận xông pha cùng bao diệu kế.
     Nơi Thiên-Đình kia Ta còn chẳng nể, hồ huống ở chốn giái ba,
     Vận thần thông lui tới một mình Ta,
     Dùng huyền-diệu xông pha cùng bao Thiên-Tướng,
     Giáp vòng trời Chư Phật Tiên đều vây Ta tứ hướng,
     Quyết bắt Ta về trị tội loạn Thiên-Cung,
     Phép thần thông, Ta biến hóa vô cùng,
     Làm chi Lão, không hãi hùng ai cả.
     Dùng phép mầu nhiệm, Ta độn vào trong tảng đá,
     Chư Phật Tiên đều quày quã trở lại tấu với Thiên-Cung,
     Hội Thần Tiên thọ lịnh Thượng-Đế Cửu-Trùng,
     Đồng thọ lịnh truyền xuống rày hạ giái.
     Phật Nam-Hải biết Hầu-Vương Ta lợi hại,
     Học Bồ-Đề thất thập nhị huyền công,
     Dùng tài ba khó thắng đặng phép thần thông,
     Dùng diệu kế mới mong bắt Ta đặng.
     Phật Nam-Hải thọ lịnh Trời dặm thẳng,
     Xuống không gian sai thằng ấu-tử đến dời Ta,
     Rằng: Vâng lịnh của Phật-Bà,
     Đòi Ta đến không gian truyền thêm Đạo-pháp.
     Nhướng cặp mắt thần thông xem rồi, Ta liền hồi đáp,
     Dễ gì đâu bắt nạp đến Thiên-Triều,
     Liền Cân-Đấu-Vân thẳng đến mục tiêu,
     Gặp Nam-Hải xem Ta như nhiều quen biết.
     Phật Nam-Hải: nếu Ta thần thông quả thiệt,
     Nhảy khỏi bàn tay, về tâu Thượng-Đế nhượng hẳn ngôi Trời,
     Vừa phân qua chưa kịp dứt lời,
     Lão khoái chí, hỏi rằng: chơi hay thiệt?
     Phật Nam-Hải: đây là lời quả quyết,
     Nhảy khỏi rồi mới biết thiệt không?
     Ta cho nhà ngươi suy nghĩ cạn đáy lòng,
     Đừng bướng bỉnh rồi ăn năn uổng công sự muộn.
     Lời khiêu khích, lòng Ta như gió cuốn,
     Từ Đông Tây một phút Đấu-Vân qua,
     Huống hồ chi bàn tay của Lão Phật-Bà,
     Hăm dọa Lão hầu toan gạt gẫm.
     Rằng: một bước Ta xa hơn ngàn dặm,
     Dễ gì ai nắm đặng vó của Ta đâu?
     Nè thử xem Ta nhảy khỏi đó hầu,
     Vừa qua nửa, bị Ngũ-Lôi đè quá nặng.
     Dùng tốc lực, Ta vẫy vùng chẳng đặng,
     Liền cúi đầu xin Phật-Tổ thứ tha,
     Rằng: lời đây của Lão Mẫu Phật-Bà,
     Rán chịu một ít sẽ có người ta đến giải.
     Bùa linh kia Phật-Bà Ngũ-Hành-Sơn dán lại,
     Cho chư Thần gìn giữ mấy trăm năm,
     Ta nằm đây thật khổ sở khó khăn,
     Giải thoát chẳng đặng thật là quá bực!
     Nghĩ mà giận Ta đây quá tức,
     Đừng nhảy qua để thử sức mới biết hơn thua.
     Ta nằm đây mùa lại qua mùa,
     Mà chẳng thấy ai đến cứu Ta ra khỏi núi!
     Bắt Ấn Tý triệu chư Thần giữ núi,
     Hỏi tại sao đè nặng ở thân Ta?
     Rằng: đây vâng lịnh của Lão-Mẫu Phật-Bà,
     Giữ bùa linh chẳng đặng tung ra,
     Để trị tội người đà lộng Càn-Khôn chẳng kể,
     Luật tuần-huờn không mau cũng chẳng trễ,
     Chờ đến năm trăm năm sẽ có kẻ cứu ngươi.
     Ta nằm đây thật chết điến trong người,
     Đói ăn sắt, khát uống dầu cho đỡ dạ.
     Nhắc tích trước Ta nằm trong kẹt đá,
     Ngũ-Hành-Sơn đè nặng mấy trăm năm,
     Chờ đến ngày tha thứ chuộc tội ăn năn,
     Trần-Huyền-Trang thọ sắc điệp Lôi-Âm,
     Đến giải thoát nếu Ta hồi tâm chịu làm đệ tử.
     Bèn chịu đại để ra khỏi rồi sẽ xử,
     Liền ứng thinh xin cứu tử sẽ hồi tâm,
     Trần-Huyền-Trang thọ pháp Lôi-Âm,
     Rằng: biết Hầu-Vương Ta chẳng có định tâm,
     Tuy chịu đó rồi Ta không chịu đó,
     Liền phải ghép Ta vào trong đôi ngõ,
     Ban Cẩm-Y lại với mão Kim-Cô,
     Xem như vầy mới rõ mặt Tiên-đồ,
     Bằng chẳng thế xem Ta như loài Hầu-Vương vô vị.
     Xem vật báu Ta liền suy nghĩ,
     Rằng: dùng Ta để bắt quỉ trừ ma,
     Nhưng bằng lòng để gỡ nặng núi đè Ta,
     Liền chịu đại cho qua đó vậy.
     Ngũ-Hành-Sơn bùa linh Phật-Bà tay gỡ lấy,
     Ta vùng nhẹ chẳng thấy có chi đâu,
     Bèn vòng tay bước lại cúi đầu,
     Xin Sư-phụ cho theo hầu hộ giá.
     Niền Kim-Cô để vào đầu xem ngộ quá,
     Để vào rồi cậy mãi cũng không ra,
     Tức giận thay! lấy thiết-bản xeo muốn gảy mà,
     Niền ấy xiết chặt, đành cam phải chịu!
     Trần-Huyền-Trang lắm khi Ta không nghe lời dạy biểu,
     Niệm Cẩn-Cô, niền ấy siết lại muốn nứt đầu Ta,
     Tức mình thay nhào lộn lăn qua,
     Xin Sư-phụ thứ tha đừng niệm nữa.
     Từ đây Ta hết phương cứu chữa,
     Đành nghe theo bữa bữa lịnh Thầy Ta,
     Bạch Tôn-Sư xin đặt danh tánh cho là,
     Thầy phán định Tôn-Ngộ-Không, Ta liền thọ lấy.
     Lòng phấn khởi trong tinh thần Ta thúc đẩy,
     Quyết một lòng theo Thầy đến gặp Phật Lôi-Âm,
     Đặng trình qua sự khổ nạn mấy trăm năm,
     Vì Ta hóa sanh thọ khí dương âm,
     Dùng hoa quả ở sơn lâm, không hưởng gì khói lửa,
     Vì phạm luật Thiên-điều nào ai dám chữa,
     Chờ hồi tâm có Phật đến cứu Ta thôi,
     Tả đề qua lưu lại cho môn-đệ nghe thời,
     Nên ghi nhớ những lời của Lão Tôn đây lưu lại.
     Ở cõi trần nào ai đâu không vấp phải,
     Gặp Đạo mầu thời đại được xá ân,
     Như Lão đây còn phải chịu khổ biết bao phần,
     Chư hiền đệ rửa sạch tâm thân hầu cầu Tiên học Đạo.
          1) Là phải tuân theo lời Thiên-cơ dạy bảo,
          2) Là cần cải tạo tư tưởng điêu ngoa,
          3) Là chung tay nhau xây dựng nền Đại-Đạo Kỳ-Ba,
          4) Là un-đúc đức tin để vượt mà khổ hải.
          5) Ý đen tối chư hiền toan gác lại,
          6) Tâm thiện từ theo lòng quảng đại của Đức Từ-Tôn,
          7) Cần chùi lau cho tươi sáng điểm linh hồn,
          8) Dùng thanh đạm để bảo tồn linh-điễn.
          9) Tu phải ra mặt con người đầy hạnh kiểm,
          10) Lòng ái tha cần thực hiện với trần ai,
          11) Nghiệt-oan trần tua trả sạch kiếp nầy,
          12) Tâm chánh niệm trở quày về ngôi vị cũ.
     Lời tâm huyết Lão đây nhắn nhủ,
     Cho khách trần được tự chủ nơi lòng,
     Vì trong người đều có một Chủ-Nhơn-Ông,
     Phải quyết đoán thông minh mới hòng về ngôi vị.
     Muốn đạt Đạo, chư hiền toan suy nghĩ,
     Kỳ xá ân nên lãnh chỉ phục về ngôi,
     Thất ức niên mới được ân xá một hồi,
     Đừng bê trễ phải chịu nhận nhồi thân nơi cát bụi.
     Hỏi kiếp tạm con người sống bao nhiêu tuổi?
     Đến thác rồi cũng phủi lấy tay không,
     Sự nghiệp đây sao chẳng biết vun trồng?
     Tìm cái sống còn trong vòng cái chết.
     Chư hiền đừng tưởng rằng: chết rồi là mất hết,
     Tấm thân phàm trả lại lòng đất nuôi dưỡng cho loài trùn,
     Chỉ hồn linh tự-tại nơi cõi thung-dung,
     Nếu chẳng vậy thì cả hai đều nằm chung nơi lòng đất.
     Chư hiền muốn biết chết rồi linh hồn còn hay mất,
     Thì xem đây lời thành thật của ngọn linh-cơ,
     Tả BÌNH-MINH vạch lại lúc ban sơ,
     Như lật quyển Thiên-thơ, chư hiền toan nghiệm cả,
     Đời cuối tận, Lão đây còn phải hạ trần lập quả,
     Cùng Phật Tiên bỏ tịnh tọa nơi bồ-đoàn,
     Vì Đức Chí-Tôn rời Bạch-Ngọc xuống trần gian,
     Cùng Kim-Mẫu bỏ bồ-đoàn, hạ trần ô trược.
     Vì đoan thệ nơi Tam-Giáo-Tòa lúc trước,
     Nếu độ không tận con, Ngài quyết chẳng trở lại Ngọc Kinh,
     Đành ở đây chịu tai nạn với tội tình,
     Như thế Chư Phật Tiên đều hạ mình trần thế.
     Chư hiền nên mau chơn kẻo trễ,
     Sẵn xác phàm tại thế mới dễ lập đức bồi công,
     Cần trau tria bước thẳng một lòng,
     Hồn khỏi xác được thong dong nơi Bồng-Đảo.
Thi:
Bồng-Đảo còn chờ đợi sĩ tu,
Hưởng đời lạc thú mấy muôn thu,
Niết-Bàn chở hết người thanh đạm,
Chẳng chứa một hồn chẳng biết tu.
Ngang dọc Thiên-Cung còn chẳng kể,
Huống hồ phàm tục mãi cần cù,
Muốn nên đạo-đức giồi trau luyện,
Phạm luật Thiên-điều chịu ngục tù.
      Lão ban ân trung đàn, thượng ỷ. Thăng...